Ðình Làng Việt-Nam
Nguyễn Bá Lăng

Giới thiệu tổng quát
Nói đến văn hóa cổ-truyền Việt-Nam, người ta không thể không nói đến ngôi Ðình-Làng. Ðình xuất hiện từ ngàn xưa và trước đây đã có mặt tại khắp làng xã Việt-Nam. Có làng có tới ba ngôi Ðình.
Ðình do đó là hình ảnh quê-hương, là tượng trưng cho nếp sống đặc-thù của xã-hội Việt-Nam: một xã hội được tổ chức gồm những đơn vị hành chánh gần như tự trị nằm trong một quốc-gia. Ðó là những làng xã tự cai trị, khu xử với nhau theo luật lệ riêng, phong tục tập quán riêng biệt.
Ðình cũng tiêu biểu cho nét độc đáo của kiến-trúc và điêu-khắc Việt-Nam; dân làng thường tự hào, hãnh diện khi có một ngôi Ðình nguy nga, cổ kính, chạm trổ công phu, hoặc khi Ðình đã được chọn đúng ở nơi đắc địa, hướng Ðình đẹp khiến cho dân làng học hành phát đạt, làm ăn thịnh vượng v. v.
Ðình cũng là nơi thờ phụng thành hoàng, đấng linh thần chủ tọa cho cuộc sống cộng-đồng và phù trợ cho dân làng được an cư lạc nghiệp, tránh được tật dịch, hung khí, tai họa.
Ðây cũng là trung tâm văn hóa, nơi tổ chức những cuộc vui chung vào dịp hội hè, đình đám cho cả làng, nên bóng nữ:

''.. Qua Ðình ghé nón trông Ðình,
Ðình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu!..''

Nguyên lai
Trước khi xét đến nguyên lai và tiến trình lịch-sử của ngôi Ðình, ta cũng nên nêu lên mấy câu hỏi:
- Những dân tộc nào có Ðình? Ðình của họ khác nhau như thế nào?
- Tại sao những ngôi Ðình cổ ở nước ta như Ðình Bảng, Ðình Chu Quyến, lại có kiểu kiến trúc rất xa lạ với kiến trúc của Ðình Trung-Hoa?
- Tại sao tòa nhà cộng đồng ( Ðình Làng ), cùng ngôi đền miếu thờ thành hoàng lại gọi là Ðình?
- Ðình nước ta có giống hay khác nhau giữa các địa phương? Và theo thời gian có những biến chuyển gì?
Trước đây có những học giả của trường Viễn Ðông Bác Cổ như : Gouloubew Bezacier suy đoán rằng '' Nguồn gốc Ðình Việt-Nam là các nhà sàn của nền văn hóa Ðông-Sơn, được khắc trên mặt trống đồng. Những nhà sàn này có thể coi như không khác chi '' những nhà Làng '' mà các sắc dân thuộc nhóm Indonesia và Mã-Lai đến hội họp hay mở các phiên tòa phong tục.
Bezacier và học giả Nguyễn văn Huyên lại cũng đã từng so sánh Ðình Việt-Nam với các nhà rông của các đồng bào thiểu số như Katu và Mnông trên cao-nguyên.
Nhà tụ bạ là căn nhà công cộng của mọi làng Mường, cũng có chức năng tương tự, không cho phụ nữ đến, nhưng nam nữ thanh niên lại có thể đến đây tình tự. Ngoài ra ở Lào cũng có nhà Bana '' công dân '' để mỗi tháng họp việc làng. Tuy nhiên chúng ta vẫn cần phải khảo sát từ ngữ '' Ðình '' xuất phát từ Trung-Hoa để hiểu rõ thêm về Ðình Việt-Nam.
Ðình Trung-Hoa

Từ ngữ Ðình:
Theo ngữ nguyên trong Trung Văn Ðại Tự Ðiển, Ðình là nơi người ta dừng lại tụ tập.
Theo sách Thuyết Văn, Ðình là chổ cư dân tới yên ổn.
Theo học giả Nhân Sư Cổ, Ðình là quán cho hành khách dừng bước nghỉ ngơi.
Theo Hán Thư, thời Tần Hán, cứ mười dặm ( lý ) có một Ðình, mười Ðình có một làng. Mỗi Ðình có một đình trưởng. Hán Cao Tổ đã từng làm đình trưởng trên bờ sông Tứ tỉnh Sơn-Ðông.

Trong ngôn ngữ có:

Ðình hạ: dừng lại nơi trạm. Chức quan đời Tấn
Ðình thượng: ở trên Ðình
Ðình trung: ở giữa Ðình
Ðình trưởng: chức quan nhỏ ở một địa phương, có nhiệm vụ giữ an ninh trong mười dặm.
Ðình tạ: nhà mát
Ðình vũ: lâu đài ...
Ðời Tống, Ðình còn có nghĩa là công bình, chính đáng, là nơi xử án ( tụng đình ).

Công dụng khởi đầu:

Ngày xưa ở Trung-Hoa cũng như ở Việt-Nam cùng các nước Á-Ðông, cách vận tải còn thô sơ, muốn đi từ nơi này sang nơi khác, trước hết người ta đi bộ, rồi đi cáng, đi võng, đi kiệu do mấy người khiêng hoặc đi ngựa, đi xe do một người đẩy. Cách vận chuyển đã phiền phức, khó nhọc, đường xá lại gập gềnh khó đi. Trong xứ đầy núi rừng hiểm trở nên cuộc hành trình nào cũng mất gấp mười gấp trăm lần thì giờ so với ngày nay và người ta thường phải ngủ đỗ lại dọc đường. Dọc đường trời tối mà không gặp thôn cư, làng mạc nào thì dù là thiên tử cũng vẫn bị dãi tuyết dầm sương. Do đó vua sai lập ở bên các con đường chính ( gọi là quan lộ hay đường cái quan ), những cái quán trú chân, phòng khi vua quan đi tuần du, giữa đường trời tối. Việc lập quán dọc đường đó có định lệ hẳn hoi. Cứ năm dặm gọi là đoản đình, lập một quán nhỏ; mười dặm gọi là trường đình, lập một quán to.

Các quán ( Ðình ) này hầu hết đều kiến thiết chắc chắn, tường gạch, mái ngói và làm theo một kiểu giống nhau. Kiểu này do vua quan bắt phải làm theo hình vuông, nóc có bốn mái. Làm xong, các Ðình đó nếu cứ bỏ hoang ở dọc đường, không tông nom, quét tước và sửa chửa, giữ gìn thì chẳng mấy chốc sẽ thành nơi trú ẩn của giặc cướp, nơi hẹn hò của rêu cỏ, bẩn thỉu và là cái mồi của thời tiết và thời gian. Vì thế, người ta phải đặt ra một chức, chọn giao cho một người dân sở tại để trông nom. Chức ấy gọi là đình trưởng. Tuy phận sự của viên đình trưởng cốt yếu là ở sự trông nom giữ gìn ngôi đình, song cũng thường rất là vất vả, bận rộn. Khi có vua, quan, quí khách đến nghỉ ngơi, lưu trú tại Ðình thì đình truởng phải tổ chức canh phòng để ngăn ngừa trộm cướp, phải mua sắm thức ăn, thức uống, dầu đèn... Tóm lại phải phục dịch như có quí khách đến nhà mình vậy. Ðể đến bù vào công đó, các viên đình trưởng được hưởng những quyền lợi như có quyền sai phái và trừng giới dân đinh thuộc Ðình mình tức là trong vòng mười dặm, được quyền cày ruộng công hay được lương bổng và được vinh ăn v.v...
Chức đình trưởng cũng tương tự như chức xã chánh, xã trưởng hay lý trưởng ở ta và như chức bảo chánh ( tức lý trưởng ) ở Tàu trước đây. Vì lý trưởng hay bảo chánh chỉ là danh hiệu đình trưởng cải ra mà thôi. Bãy giờ trong văn chương người ta thường gọi bóng lý trưởng là thập lý hầu, từc nghĩa là được hầu trong mười dặm, cũng là vì xưa, đình trưởng có quyền hành trong vòng mười dặm.
Ðình Việt-Nam
Lịch sử:

Nước ta nắng nhiều, mưa lớn nên dịch đình được tạo ra để đem lại tiện nghi trên đường bộ kể từ thời Hán. Tới khi độc lập, các triều đại Việt-Nam vẫn cứ tạo dựng những đình trạm như vậy.
Trạm ở đây có thể hiểu là đình trạm, còn danh từ trạm về sau này là chỉ những công quán dựng trên những đường lộ cách quảng nhau khá đều và sử dụng vào những công việc của nhà nước như chuyển công văn.
Ðến năm 1044, vua Lý Thái-Tông cho dựng một công quán ở vào địa phận làng Cự-Linh, huyện Gia-Lâm ngày nay, gọi là trạm hay đình Hoài-Viễn, dành làm nơi tiếp đón sứ thần các nước nghỉ ngơi ở bên kia sông, trước khi sang Thăng-Long bệ kiến nhà vua. Ròi cũng năm đó nhà vua cho đặt trấn Vọng-Quốc và bảy trạm ( dịch đình ) nữa, đặt tên là Tuyên-Hóa, Vĩnh-Thông, Thanh-Bình, Huy-Ðức, Bảo-Ninh, Cảm-Hóa, An-Dân, nay đều thuộc địa hạt tỉnh Thái-Nguyên.
Theo sử liệu ( Cương-Mục, Tiêu-Án Việt-Sử ), thì khi xưa ở nhiều địa phương, có những ngôi nhà công cộng, quét vôi trắng, để cho người đi đường vào nghỉ ngơi, gọi là dịch đình. Các cáo thị sau khi được tuyên đọc, đều được dán ở Ðình. Tháng 8 năm 1231, vua Trần Thái-Tông đã hạ lệnh cho các dịch đình đắp vẽ tượng Phật để thờ.

Cũng vào thời kỳ này, sau khi bày mưu cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ đã làm mọi cách để kiểm soát nhân dân trong nước và để dân chúng quên nhà Lý, không phản đối nhà Trần.

Năm 1242, chia nước làm 12 lộ ( tỉnh ). Mỗi lộ chia ra làm nhiều xã. Ðứng đầu mỗi lộ là chánh, phó an phủ sứ ( hai chức này đặt ra từ triều Lý ), dưới có các chức đại tư xã, bổ các quan từ ngũ phẩm trở lên và tiểu tư xã bổ các quan từ ngũ phẩm trở xuống ( Ðại tư xã và Tiểu tư xã sau này đổi làm tri phủ và tri huyện ). Còn mỗi xã, bổ xã quan trực tiếp cai trị dân làng gọi là xã chánh và xã giám, tức như lý trưởng và phó lý trưởng trước đây. Trong xã ( làng ) đã có quan do nhà vua bổ về cai trị thì phải có công đường để làm nơi hội họp bàn việc quan, việc làng và dùng làm công quán để vua quan, quí khách dừng chân lưu trú, một thứ dịch đình được thiết lập tại khắp các làng xã, vì vậy dịch đình từ nay trở thành Ðình Làng.
Trần Thủ Ðộ cũng khuyên vua nhà Trần nên năng đi tuần thú, vừa để tỏ lòng thân dân, vừa thị uy và tiểu trừ phiến loạn chống tân triều. Vừa khi những công quán đình làng được lập nên khắp nơi, thì những nơi đó cũng được tổ chức như những hành cung để tiếp rước nhà vua. Hoặc cũng có Ðình sắm sẳn hương án, tàn lọng để phòng khi phụng mệnh sắc chỉ nhà vua, để bái vọng xa giá vua hay quan khâm mạng tuần du qua. Trên xã gian chính tẩm đình, người ta trang trí bằng một tấm hoành phi, nhiều khi chạm trổ rất công phu, sơn son thếp vàng rực rỡ, khắc bốn chữ lớn: '' Thánh thọ vô cương, hoặc '' Thánh cung vạn tuế '' để chúc tụng nhà vua. Những khi vua đi ngang qua hay ngụ tại đó, trông thấy tất sẽ đẹp lòng.

Ðình trung:

Cũng từ thời Trần, do sự hiện diện của các xã quan mà quy chế ngôi thứ, tôn ti trật tự được xếp đặt ở chốn đình trung, tại các làng xã Việt-Nam. Chỗ ngồi ở đây cũng quý không kém gì chỗ đứng ở sân chầu triều đình; thứ bậc trên dưới rồi đến lễ nghi, tế tự cũng được rập theo khuôn mẫu, kiểu cách của triều đình.

'' Lễ nghĩa tương tiên thiên hạ đại phong tục,
Tôn ti hữu tự hương đảng tiểu triều đình ''.
( Câu đối Ðình làng Dy Sử, Mỹ-Hào, Hưng-Yên )

Dịch:

'' Lễ nghĩa cùng đứng, trước là phong tục lớn trong thiên hạ,
Tôn ti có chữ, hương đảng là triều đình nhỏ ''.

Các làng Việt-Nam ngay từ thời Lý, thời Trần đã có hương ước phân minh, xã hội Việt-Nam đã được tổ chức rất sớm cả ngàn năm nay.

Ðến khi nhà nước không bổ xã quan về cai trị nữa, dân làng tự bầu lấy người đại diện ra làm xã trưởng, để một đằng giao thiệp với quan trên, một đằng gánh vác, giải quyết việc làng cùng với các vị hương chức, các phe giáp, đoàn thể trong làng xã. Theo quy lệ này thì mỗi làng trở thành một đơn vị hành chánh gần như tự-trị, một nước nhỏ trong một nước lớn, hay một nước cộng hòa nhỏ trong một nước quân chủ lớn. Phép vua lan tỏa ra khắp nước, nhưng khi đụng đến lũy tre xanh của cổng làng, phải ngưng lại để làng xem có thích hợp để đón nhận hay không. Vua xa, làng gần nên phép vua thua lệ làng.

Thể chế Ðình Trung quả là một sáng kiến độc đáo của nhà Trần, một biện pháp giàu tâm lý và hữu hiệu để tạo ra một xã hội ổn định, có trật tự và vui sống trong lễ nghi, văn hóa để trở thành nếp sống đặc biệt của xã hội Việt-Nam từ thế kỷ XIII, cho mãi đến thời gian gần đây.

Ðình thờ thần

Dân ta tin rằng đất có thổ công, sông có hà bá, núi có sơn thần, làng có thành hoàng. Dân phải thờ phụng thần linh, để các ngài phù hộ độ trì cho được bình an, khỏa mạnh, may mắn, tốt lành ...

Tục thờ thành hoàng có từ thời Hán thuộc thế kỷ II trước công-nguyên. Nguyên thủy thành hoàng được thờ ở miếu, ở nghè ( nơi miếu có nhiều cây cối bao quanh ). Khi làng vào đám, mở hội, mới rước về Ðình. Về sau vua đặt lệ phong các đại thần khi thất lộc được làm phúc thần, cho thờ bằng lọng vàng trong Ðình làng. Làng nào không có phúc thần thì xin phép hoặc tự ý tìm một thần linh, hoặc đế vương, trung thần, liệt nữ đời trước làm thành hoàng. Kể từ đó ( khoảng thế kỷ XVI..? ) mới có lệ thờ thành hoàng thường trực ở Ðình và Ðình này gọi là Tử Ðình ( đình đền thờ hay đình miếu ).

Thành Hoàng

Hầu hết các vị thần thánh thờ tự ở các đình, đền, miếu mạo, được Bộ Lễ kiểm tra, lập danh sách để dâng lên vua, để sắc vua phong cho làm thượng đẳng, trung đẳng hay hạ đẳng thần; tùy theo công đức, sự nghiệp đã giúp dân, giúp nước lúc sinh thời của vị nhân thần, hoặc căn cứ vào sự âm phù, linh hiển, hộ trì dân nước của vị thần linh. Có những vị mà sự nghiệp hiển hách, công đức rõ ràng, hoặc u linh u hiển, dậy tiếng đồn, đâu đâu cũng biết, nhưng cũng có nơi thành hoàng chỉ là một người tầm thường chết vào giờ linh, đã báo ứng cho dân làng thờ phụng. Có khi thành hoàng là một vị sơn thần, hoặc cũng có khi người đang còn sống, vì một lý do nào đó, được dân làng chịu thờ làm thành thần hoàng sống.

Trong trường hợp nào thì dân làng cũng rất mực tôn kính vị thành hoàng của làng mình, tôn trọng những '' hèm '' liên qun đến vị thần linh đó, kiêng tên ngài mà nói chệch ra một tiếng tương tự. Có nhiều nơi hàng năm diễn lại sự tích hay một vài hành vi đặc trưng của thần, trở thành một tiết mục nghi lễ, cho là có thế thì dân làng mới được bình yên, làm ăn thịnh vượng. Thành hoàng tiêu biểu cho niềm hướng vọng chung, là thể hiện cho luật lệ, phong tục, luân lý và cho cả sự thưởng phạt. Thành hoàng là nhân cách hóa của uy quyền tối cao mà uy lực lại xuất phát từ cộng đồng dân thôn. Thành hoàng là vua vô hình chủ tọa tiểu triều đình xã thôn và quản trị tâm linh xã thôn.
Chức năng của Ðình làng
Cũng kể từ đó, dịch làng biến thành Ðình Làng và dần dần hóa thành một cơ sở văn hóa phức thể, tham dự nhiều phương diện sinh hoạt của xã hội Việt-Nam. Xây dựng to tát, vững chải, Ðình thường là ngôi kiến trúc quan trọng nhất và quy tụ hầu hết mọi sinh hoạt chung của làng.
Ðình có nhiều chức năng. Ngoài những chức năng là công quán, nơi chính thức để đón quan chức khi tiếp xúc với dân làng; là dịch đình cho khách bộ hành dừng lại nghỉ ngơi; là nơi dán cáo thị của làng và của nhà nước khi đã tuyên đọc, Ðình còn những chức năng khác:
- Ðình là nhà công để hương chức, hàng phe, hàng giáp bàn việc dân ( việc làng ), việc quan ( việc nước ).
- Ðình là khách sạn cho vua, quan hay cho bộ hành khi có dịp đi ngang qua làng.
- Ðình là tòa án, nơi dàn xếp những sự tranh chấp hoặc xử kiện của dân làng; là nơi thi hành thưởng phạt, tuyên dương những khen thưởng của làng hay của triều đình. Có những Ðình treo bảng '' Mỹ Tục Khả Phong '' của vua ban vì làng có những tục lệ hay.
- Ðình có thể làm trường học cho những lớp ấu nhi, tiểu học.
- Trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, Ðình đóng góp một phần rất quan trọng trong việc tế lễ.. Giữa hay sau lễ tế thần, thường có nhạc, kèn, trống, múa hát và những bộ môn sân khấu như hát tuồng, hát chèo diễn ra tại Ðình.
- Ðình là nơi dân làng xin ra '' trình '' những việc vui, buồn, trọng đại trong nhà như '' vào làng '' cho con trai, nộp cheo, nộp cưới, khao vọng, ma chay, mua nhiêu, mua xã, vào hàng quan viên, lên lình, lên lão. v.v..
Ðình còn ảnh hưởng đến sự bình an, thịnh vượng hay nghề nghiệp của dân làng vì '' hướng đình '', vì cuộc đất dựng Ðình. Hướng Ðình rất quan trọng với dân làng. Hướng Ðình ở đây có nghĩa là phương hướng của cuộc đất được chọn, để dựng Ðình theo những quy tắc của thuật phong thủy hay địa lý. Sự an lành, thịng vượng của dân làng nhiều hay ít tùy thuộc vào hướng Ðình đẹp hay không. Dân Việt-Nam xưa tin rằng hướng Ðình ảnh hưởng đến nét đặc thù về nghề nghiệp hoặc tính cách chung của dân làng, vì vậy việc chọn đất, cắm hướng Ðình được xem rất quan trọng. Chẳng hạn như trước Ðình phải tụ thủy, nên Ðình thường nhìn ra một khúc sông vòng bọc lại, một ao, hồ hoặc một cánh đồng trũng thấp, có thế thì mới đọng của, làng mới giàu; nếu có những mô đất nổi lên làm án, làm bút thì dân làng dễ học hành thi đỗ, làm quan. v.v..
Kiến trúc
Ðình là kiến trúc to lớn, đồ sộ nhất làng. Dáng dấp bệ vệ, uy nghi, mi tỏa rộng để che mưa nắng, góc vươn cong, cột mập chắc. Bốn cột cái gian chính có khi là một cây gổ rừng được bào chuốt gọi là, bụng to phình hàng hai vòng tau ôm. Ðình cổ thường do hai hiệp thợ mộc thi đua trổ tài, mỗi bên làm một nửa nên trông bề ngoài tuy nhất thể, mà bên trong mỗi nửa bên một khác nhau về phong cách trang trí. Ðình cổ được thực hiện vào lúc cây rừng còn nhiều, lại cố ý dựng lên để tồn tại với thời gian, nên vật liệu được chọn toàn những loại bền tốt, cột kèo to chắc, gỗ chồng chất đến dư thừa, nhưng ngụ ý là để chịu đựng được sức nặng của tòa mái to rộng, mà ngói có nơi to như một cái khay cỡ 20x30cm, dầy tới 4, 5cm và chịu được sức gió bão của miền nhiệt đới.
Hầu hết tòa đại bái ( đại đình ) nào cũng làm năm gian rộng, cộng hai gian hẹp theo chiều ngang dài: một gian rộng, hai gin trung bình cộng hai gian hẹp theo chiều sâu. Tổng cộng như vậy, Ðình có tất cả là 48 cây cột đặt trên đá tảng. Toàn thể bộ giàn trò được cấu trúc ngay chỉnh, vững vàng. Vì kèo được làm theo kiểu '' chồng rường giá chiêng '' và '' thượng rường hạ kẻ '' hoặc có khi là '' thượng giá chiêng hạ kẻ chuyền '' ở những gian bên và cốn ( ván dầy có chạm khắc ), được thay thế cho bộ chồng rường bên trên xà nách. Ðộ dốc của mái được tính theo công thức '' thượng tam hạ tứ '' khoảng 33 độ rất phổ biến trong kiến trúc nhà gỗ Việt-Nam, nhưng ở gần miền biển thì được tính dốc hơn
Ðình cổ thường có sàn gỗ để làm chổ cho dân làng ngồi hội họp. Sàn làm phẳng hoặc cao dần lên chênh nhau dăm mươi phân. Khi ngồi thì giải chiếu, chỗ ngồi được xếp theo thứ tự, ngôi thứ nên mệnh danh là '' chiếu trên, chiếu dưới ''. Ngày xưa, người ta hay ngồi xếp bằng tròn và ngồi trên sàn hay bục, như vậy được nhiều chổ hơn là ngồi ghế; vã lại nếu cần ngả lưng như Ðình là trạm quán thì cũng tiện lợi, khỏi cần giường nằm. Có lẽ vì vậy mà cái Ðình làng vẫn tiếp tục truyền thống nhà sàn của người Lạc-Việt và của các dân tộc Ðông-Nam-Á miền nhiệt đới gió mùa. Dù sao thì cái Ðình làng với cái sàn cũng là một kiến trúc khác biệt với kiến trúc và cái Ðình làng Trung-Hoa.
Ðình cổ làm kiểu ( tức bình đồ ) chữ nhất hay chữ nhật nằm. Kể từ khi thành hoàng được thờ thường trực tại Ðình, thì mới xây thêm hậu cung và kể từ đó mới xuất hiện những kiểu chữ đinh, chữ công. Bình đồ chữ đinh, mái chữ công, chữ nhị, chữ vương, chữ đán hay làm theo chiều dọc tức chữ nhật đứng. Cũng có nơi Ðình được xây thành đền thờ hay xây theo kiểu đền miếu, kiểu này về sau được phát triển khá nhiều ( thế kỷ 20 ).
Trang trí:
Trong lòng Ðình, mặt tiền bàn thờ hay cung thờ bao giờ cũng được trang hoàng rực rỡ hơn cả: suốt chiều dài của gian chính tẩm và từ sát mái trở xuống tới 2 hoặc 3 mét, những tao trương, hoành phi, ô học gồm nhiều tầng sâu và cửa võng được trang trí bằng những hình rồng, mây, nghê, hạc, mây lửa, chữ triện, đại tự, dây hoa, mai, trúc v.v.., đục chạm công phu, tỉ mỉ và sơn thếp vàng son huy hoàng. Bộ giàn trò ( sườn nhà ) thì trừ các cột và hoành rui ra, các thành phần khác hầu hết được chạm trổ, trang trí, nhiều nhất ở những tấm riềm gió ( thượng diệp, hạ diệp ), cốn, lòng giá chiêng, kẻ hiên, đầu bẩy. Ở gian chính tẩm, đoạn đầu kèo xuyên qua cột cái để củng cố câu, đầu được chạm soi thành một đầu rồng có râu tóc tua ra đằng sau, chân đạp vào cột, gọi là đầu dư. Ðầu dư luôn luôn được thi công thành những tác phẩm điêu khắc gỗ công phu và đặc sắc.
Nhận xét chung về nghệ thuật điêu khắc trang trí các ngôi Ðình, người ta có thể nói rằng từ thế kỷ thứ 17 trở về trước phong cách có vẻ tự nhiên, sống động và có tính cách dân gian hơn; thế kỷ thứ 18 thì hoàn chỉnh, trang trọng hơn; nhưng từ thế kỷ thứ 19 thì theo định lệ, đề tài nghèo nàn đi.
Các kiểu Ðình:
Ðình kiểu chữ nhất:
Nguyên thủy Ðình là trạm quán, nơi lữ khách dừng chân ( dịch đình ), được làm theo kiểu chữ nhật giản dị. Sau trở thành Ðình làng thì cũng cứ thế mà làm to rộng hơn ra. Vì vậy Ðình kiểu chữ nhật là kiểu xưa hơn hết. Tỷ dụ như:
- Ðình Tây Ðằng, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn-Tây là ngôi Ðình còn lại xưa nhất của nước Việt-Nam. Nhận xét qua cách cấu trúc của bộ giàn trò và phong dạng điêu khắc trang trí thì Ðình này có thể được coi là di vật của kiến trúc đời Trần ( thế kỷ thứ 14 ).
- Ðình Chu Quyến ( Ðình Tràng ), phủ Quảng-Oai, tỉnh Sơn Tây; nổi tiếng là to, đẹp. Sân lim lan can diễu quanh bốn mặt, trong lòng trang trí những hình rồng ngang, sư tử hí cầu, sinh hoạt dân gian chạm nổi, voi ngựa, phượng, tiên chạm tròn. Với vẻ già lão, phong cách trang trí tiên, hạc cổ kính, kiến trúc này có thể định tuổi vào khoảng thời Mạc ( thế kỷ thứ 14 ) trở về trước.
- Ðình Dương-Liễu huyện Ðan-Phượng tỉnh Hà-Ðông: Khởi lập từ triều Lý, tiêu biểu cho loại Ðình cổ, kiến trúc to rộng, cột to, thềm đá, điêu khắc phong phú, sinh động. Bị phá hủy trong cuộc chiến 1946-1954.
- Quán Yên-Sở, huyện Ðan-Phượng tỉnh Hà-Ðông: kiến trúc hoàn toàn giống như các ngôi Ðình cổ chữ nhật, nhưng ở đây gọi là quán có lẽ vì đã giữ nguyên tên gọi và chức năng của loại kiến trúc cổ dựng bên đường ( đê ), cho khách đi đường dừng chân nghỉ ngơi, ăn uống. Trái lại cũng ở gần đây, ngôi đền thờ vị thành hoàng Lý Phục Man ( thời tiền Lý ) lại được gọi là Ðình.
- Ðình Lỗ-Hạnh, huyện Hiệp-Hòa, tỉnh Bắc-Giang: dựng năm Bính-Tý, niên hiệu Sùng-Khang nhà Mạc ( 1576 ), điêu khắc theo nhiều đề tài dân gian. Ðình này về sau làm thêm nhiều hậu cung thành bình đồ chữ công.
- Ðình Cao-Thượng, Sở tại huyện Tân-Yên tỉnh Bắc-Giang, khởi dựng khoảng đầu thế kỷ thứ 17 đến cuối thế kỷ dựng thêm hậu cung phía sau, thành kiểu chữ nhị.
- Ðình Quảng-Phúc, tỉnh Bắc-Giang: kiến trúc thuần phác, kiểu nhà sàn.
- Ðình Hoành-Sơn, huyện Nam-Ðàn, tỉnh Nghệ-An, thế kỷ thứ 18. Ðình nổi tiếng vì nghệ thuật điêu khắc, trang trí trong Ðình rất mực tinh vi, trau chuốt.
- Ðình Tường-Phiêu, huyện Tùng-Thiện, tỉnh Sơn-Tây; được sửa chữa lại hồi thế kỷ thứ 19. Sàn Ðình đặc biệt cao tới ngực người, cao hơn hẳn các sàn Ðình khác, góc đao uốn nhọn.
- Ðình Phú-Hữu, huyện Bất-Bạt, tỉnh Sơn-Tây, dựng trên sườn đồi, mặt nhìn sang núi Tản, được làm lớn ra hồi đầu thế kỷ thứ 19. Nền bệ cao ráo, kiến trúc khang trang, đường bệ, trước mặt hai cấp san chạy dài ra đến tam quan.
- Ðình Hiến-Phạm, huyện Yên-Mỹ, tỉnh Hưng-Yên, kiến trúc khoảng thế kỷ thứ 18, có trang trí tượng và ngựa ở trên đầu cột, có chấn song bao quanh một mặt Ðình. Phía trước, về sau có dựng thêm nhà tiền tế thành kiểu chữ nhị. Bị rỡ phá trong cuộc chiến 1947-1954.
- Ðình Ngộn ( Nguyễn Xá ), huyện Mỹ-Hào, tỉnh Hưng-Yên, thế kỷ 17 ?. Ðặc biệt là điêu khắc trang trí theo hình trúc dạng ( hình cây lá tre, trúc ), ở đầu những kẻ, bẩy.

Những Ðình chữ nhất luôn luôn là những Ðình sàn, tuy nhiên vì có thờ thần ở Ðình nên khoảng giữa chính tẩm không làm sàn mà lát gạch để làm chổ tế lễ trước hương án và khám ( trang ) thờ thiết lập ở đáy khoang. Khám thờ làm tựa như treo lên sát mái, mặt trước trang trí tai trương, ở trên đầu bốn cánh cửa chạm trổ rồng mây, hạc chầu, sơn son thếp vàng rực rỡ, có khi có cả sơn màu ngũ sắc. Cũng làm liền với khám thờ nhưng thấp xuống một cấp là bàn thờ hay giường thờ, trê bày sơ sài một bát hương và hai bình hoa ...

Những gian hai bên làm sàn gỗ, giải chiếu để dân làng ngồi, tụ họp chung quanh có lan can thấp nên tử vi để trống thoáng như ở Ðình Tây-Ðằng, Ðình Chu-Quyến, Ðình Yên-Bảo-Vệ, Ðình Phú-Hữu, Ðình Nguộn v. v...
Ở những Ðình Dương-Liễu, Ðình Quảng-Phúc, Ðình Hiến-Phạm thì chung quanh làm chấn song hoặc bít ván ba mặt, sau lưng và hai bên như ở quán Yên-Sở.
Bên trong lòng Ðình chữ nhất này thường được trang trí rất phong phú bằng những hình chạm chổ rồng, hạc, mây lửa, người, ngựa, hươu, sóng nước ... trên ván giòng, cốn, đầu bẩy... Ðường nét sống động nhất là những cảnh diễn tả một vài điển tích hay nếp sinh hoạt nhân gian. Lại có cả những tượng voi, ngựa, nghê, phụng, tiên có cánh, đứng trên những đầu xà, phong cách đôi khi cổ sơ nhưng rất độc đáo.
Khi đại đình không đủ chổ ngồi thì người ta dựng thêm ở phía trước, một tòa nhà song hành nhưng ngắn nhỏ hơn, gọi là nhà tiền tế như ở Ðình làng Yên-Bảo-Vệ hoặc như ở làng Bát-Tràng, huyện Văn-Giang tỉnh Bắc-Ninh. Vì thờ nhiều thành hoàng nên người ta dựng ở phía sau đại đình một tòa hậu cung năm gian chạy dài song hành thành thế chữ nhị.
Hai dẫy nhà dọc ở hai bên sân trước Ðình, gọi là nhà giải vũ để dùng làm nơi sửa soạn đồ tế lễ và rước sách như ở Ðình Tây-Ðằng, quán Yên-Sở, Ðình Phú-Hữu, Ðình Tường-Phiêu và ở rất nhiều ở những Ðình lớn khác.
Sân Ðình rất cần thiết vào những dịp hội hè đình đám; là nơi để chồng kiệu; để sửa soạn long đình; sắp đặt đám rước; để dựng sân khấu hát chèo, hát tuồng, đánh cờ, cùng biểu diễn các trò vui. Trước sân thường có một cái ao hay giếng nước để làm minh đường tụ thủy theo luật phong thủy, như vậy hướng Ðình mới thuận đẹp. Vào dịp hội hè thì ao là nơi tổ chức các cuộc vui như leo dây, múa rối, bắt vịt, đốt pháo bông.
Ngày thường, sân và bãi trước Ðình dùng để họp chợ, hai giải vũ để làm lớp hương học. Xung quanh Ðình, hoặc để trồng cây; cây đa, cây gạo, cây bàng, cây đại... Phía trước xây cổng chính và cổng bên, cổng nách. Cổng chính xây hai cây trụ biểu gách hoặc có mái hoặc không; cổng bên, cổng nách nhỏ hơn thường xây cuốn, đắp mái.
Ðình chữ đinh:
Khi ngôi Ðình làng trở thành nơi thờ tự thường trực, người ta nối vào sau lưng gian chính giữa một tòa nhà dọc để làm cung thờ thành hoàng. Phần nối thêm này, theo danh từ chuyên môn về xây cất gọi là chuôi vồ, và vì ba mặt phía sau xây hoặc bịt kín, mặt trước có cửa ngăn nên gọi là hậu cung hay cung cấm. Tới đây xuất hiện kiểu Ðình có bình đồ chữ đinh.
Ðình chử đinh cổ thường làm tiền đao hậu đốc, nghĩa là đại đình ở phía trước làm mái có đao guột ở góc và hậu cung phía sau làm tường hồi bít đốc như Ðình làng Cổ-Loa, huyện Ðông-Anh, tỉnh Phúc-Yên; Ðình Phật-Tích, huyện Tiên-Du tỉnh Bắc-Ninh; Ðình Kim-Liên, Ô Cầu Dền Hà-Nội; Ðình Phú Xuyên, phủ Quảng-Oai tỉnh Sơn-Tây. Mặc dầu là hậu cung, ở đây làm dài, lớn, mái hai tầng trùm thiềm. Những ngôi Ðình làm về sau có tính cách giản lược thì không làm đao góc nữa mà đại đình, hậu cung đều xây tường hồi bít đốc, nhưng trang trí bên ngoài nhiều hơn, như xây trụ nanh ở hai bên trước mặt, đắp mặt hổ phù ở đầu hồi, lưỡng long chầu nguyệt trên nóc mái như một số Ðình ở ngoại ô Hà-Nội: Ðình Bạch-Mai, Ðình Ô-Cầu-Dền...
Ðình chữ công:
Khi phần thờ tự phát triển hơn nữa, hoặc làng giàu lớn, hậu cung được làm thành một nếp nhà ngang, song hành với đại đình hay đại bái, có nếp nhà dọc gọi là '' ống muống '' để nối hay dẫy ngang vào nhau tạo thành kiểu chữ công. Ðại bái là nơi họp hành tế lễ, ống muống là nơi trần thiết đồ thờ như hương án, tàn lọng, lộ bộ, sập thờ, cùng các đồ bày bên trên như bát hương, bình hương, bình hoa cây nến, giá văn, bồ đài, đài rượu, mâm bồng, giá gươm, kỷ viết. Hai bên và trước mặt có giá cắm tàn lọng, lộ bộ, cờ quạt, hạc chầu. Trong cung cấm thường làm ba gian ngắn và nhỏ hơn đại bái nhiều, có ngai ỷ, bài vị hoặc tượng thần bày trên bệ xây hoặc đặt trên sàn gỗ cao.
Kiến trúc kiểu chữ công đã được luật Hồng-Ðức thế kỷ thứ 15, quy định cho những cung điện, nha thự, công quán. Ðình kiểu chữ công có lẽ đã bắt chước theo đó, nhưng phần hậu cung thường làm ngắn hơn phần trước. Mái trước, mái sau đều làm đao góc như ở Ðình Mông-Phụ, huyện Tùng-Thiện, tỉnh Sơn-Tây ( thế kỷ thứ 19 ), Ðình Cổ-Ðô ( thế kỷ thứ 18 ), Ðình Ðông-Lâu ( thế kỷ thứ 19 ) ở huyện Bất-Bạt, tỉnh Sơn-Tây; Ðình Dư-Hàng ( đầu thế kỷ 20 ) tại Hàng-Kênh Hải-Phòng. Ở Ðình Trùng-Thượng ( thế kỷ thứ 18 ), Phúc-Thọ, tỉnh Sơn-Tây thì phần sau ống muốn, hậu cung làm mái trùng thiềm. Ðình Hậu-Bổng, huyện Gia-Lộc tỉnh Hải-Dương; Ðình làng Ðình-Bảng, phủ Tứ-Sơn, tỉnh Bắc-Ninh và Ðình Thổ-Hà ( 1686 ) huyện Việt-Yên tỉnh Bắc-Giang thì làm tiền đao, hậu đốc. Ðầu đốc được trang trí mỗi nơi một kiểu độc đáo. Ðình Linh-Ðường ( thế kỷ thứ 18), huyện Thanh-Trì, tỉnh Hà-Ðông thì hai phần tiền hậu làm dài bằng nhau và đều làm tường hồi bít đốc. Ðây là một hành cung của chúa Trịnh, kiến trúc đặc sắc, được đem rỡ về dựng làm Ðình ở nơi tâm điểm của một hồ sen hình trăng lưởi liềm. Có thuyết cho rằng ngôi Ðình này là do bà Thái-phi họ Nguyễn-Thụy là Từ-Trạch, vợ chúa Trịnh-Doanh, mẹ chúa Trịnh-Sâm cúng hiến cho làng.
Bình đồ chữ đinh, mái chữ công:
Kiểu này khá phổ thông khi hậu cung không cần làm to rộng lắm mà mái trông vẫn đủ vẻ uy nghi, duyên dáng như đình chữ công. Bên dưới tường bọc hậu cung thường được xây ra sát chân tầu bằng gạch Bát-tràng để trần, bắt mạch lớn, trông rất tề chỉnh. Trên mặt tường gạch màu gan gà, nổi lên một khung cửa sổ trắng, trổ hoa văn chữ thập, kim tiền hay đắp một chữ thọ, một bông hoa thị ở hai bên hông cung thờ hoặc chỉ là một khung bảng, trong lòng đựng gạch đứng thành chấn song trổ ở phía trên cao mặt tường sau lưng. Hai bên hậu cung xây tường hoa, quây bọc thành một vườn có trồng những cây cảnh như thiên tuế, mẫu đơn, đại... cành cong queo, sù sì vươn lên, hòa nét màu thiên nhiên cùng góc đao, ngói móc tạo thành bức tranh cổ kính.
Ðình chữ đinh, mái chữ công phát triển vào thế kỷ 17, 18; lược kể có các ngôi Ðình làng Trai-Trang; Sài-Trang, huyện Yên-Mỹ, tỉnh Hưng-Yên; Ðình Phù-Liễm, tỉnh Kiến-An; Ðình làng Hát-Môn, huyện Phúc-Thọ, tỉnh Sơn-Tây..., nhưng cũng tiếp tục cho đến thời gần đây như Ðình làng Thừa-Lệnh, huyện Bất-Bạt, tỉnh Sơn-Tây ( thế kỷ thứ 19 ).
Các kiểu khác:
Ngoài các kiểu chính nói trên, kể từ kiểu nghuyên thủy chữ nhất, phát triển thành chữ đinh, chữ công trên địa bàng rộng rãi gần khắp miền Bắc Việt-Nam ( đàng ngoài ), ở một số địa phương còn có những kiểu riêng biệt:
Ở Vĩnh-Yên, Ðình Hương-Canh làm nhô ra phía trước một phương đình hai tầng, mái cong trùm thiềm, tạo thành với hậu cung nối vào đại đình ở phía sau thành bình đồ chữ thập.
Cũng ở Vĩnh-Yên, Ðình Tiên-Hưởng là một kiến trúc quy mô đồ sộ, gồm có tiền tế, đại đình, hậu cung. Ba tòa kiến trúc xếp song hành thong dong trước sau, có nhà cầu, ống muống, nối vào nhau thành thế chữ vương. Nếp trước, nếp giữa, nếp sau, mái đều làm tàu đao uốn góc. Trên gian chính giữa, nhà tiền tế làm nhô lên bốn mái lầu, góc cong cho thêm phần nguy nga hùng tráng. Phải chăng vang bóng cung điện của quận He, Nguyễn Danh-Phương ( thế kỷ thứ 18 ), đã được gợi lại ở Ðình này.
Ðình làng Hoàng-Xá phủ Quốc-Oai, tỉnh Sơn-Tây thờ thừa tướng Lữ-Gia thời Triệu-Ai-Vương, gồm một tòa đại đình rộng lớn, có ba nhà dọc nối vào sau lưng làm hậu cung, tạo thành một bình đồ kiểu chữ sơn. Ðình có nhiều bức chạm gỗ lạ, đẹp với đề tài người, voi, hổ. Thông thường các ngôi Ðình làm theo chiều ngang thì riêng ở Hồ-Tây, Hà-Nội và bên kia sông Cái, miền gần Cổ-Loa, huyện Kim-Anh, tỉnh Phúc-Yên, có mấy ngôi Ðình lớn và cổ kính lại làm theo chiều dọc, theo bình đồ mái chữ nhật đứng. Mặt chính Ðình mở ra ở một đầu hồi, mái đao. Trong lòng Ðình, ngang năm giang, sâu bảy gian, Hai bên làm sàn hay xây bục ngồi, giữa để trống, tất cả chạy dài suốt chiều sâu của kiến trúc, đến một sân hẹp nằm ngang trước mặt hậu cung là một tòa nhà ngang ba gian, tường hồi bít đốc và ba mặt xây kín. Còn ở đại đình thì hai bên sườn mở cửa sổ chạy suốt chiều dài. Hai bên sân trước mặt cũng thường dựng hai dẫy giải vũ năm gian. Mặt Ðình tuy mở ra ở đầu hồi nhưng cũng khá dài, rộng, nên mái nhà lên cao. Diện tích tam giác của đào đốc trên mái hiên rộng lớn, nên phải làm thêm một mái hắt trong lóng đầu đốc này để che khung bảng đề tên Ðình như ở làng Nghi-Tàm, hoặc che hình đắp long-phụng chầu nguyệt, trang hoàng trên mặt tiền Ðình Yên-Phụ, hoặc chỉ để che mưa cho ô cửa chắn song gió ở Ðình Thụy-Khê. Ðình nào cũng làm ba chuồng cửa, để bước vào lòng Ðình. Ðình Nghi-Tàm thì có hàng cột hiên làm bằng đá vuông, Ðình yên-Phụ vẽ hai ông tướng đứng trấn hai bên; Ðình Thụy-Khê trổ cửa sổ hoa thị tròn.
Các Ðình Hạ-Trì, Cầu-Ðơ, huyện Thanh-Oai; Ðình Thượng-Cát, Thụy-Phương, huyện Từ-Liêm tỉnh Hà-Ðông và tại một số Ðình thuộc huyện Tuyên-Du tỉnh Bắc-Ninh, người ta dựng trước mặt tòa đạ bái một phương đình ( đình vuông ), tám mái trùng thiềm để làm cho cảnh Ðình thêm đẹp.
Những ngôi đình đền:
Có những đền thờ danh nhân lịch sử được xây cất nguy nga, gồm nhiều tầng, cổng, lớp sân, tòa ngang dẫy dọc, quy mô dài rộng mà vẫn được gọi là Ðình, mặc dầu chổ ngồi họp không được rộng lắm, chỉ vì vị nhân danh đó được thờ làm thành hoàng làng. Ðó là trường hợp các làng:
- Ðình làng Yên-Sở, huyện Ðan-Phượng tỉnh Hà-Ðông, thờ Lý Phục-Man, một vị tướng thời Lý Nam-Ðế, lập ở ngoài đê, trên bải tả ngạn sông Ðáy.
Ðình là một quần thể kiến trúc được bố cục đăng đối theo một chiều dài hướng Nam-Bắc. Thoạt tiên là hai cây trụ biểu xây to và công phu, chỉ dẫn lối vào sân thứ nhất, con đường lát gạch xuyên qua giữa hai trụ, dẫn thẳng tấp đến tòa cổng là tòa nhà một gian hai chái, bốn mái uốn cong, trên đắp những lá lan đằng cuốn cao. Hai bên xây cổng phụ ba tầng giả. Tường hai bên những cổng này có gắng những viên gạch cổ, chạm nổi những hình rồng, phượng, nghê, thú vật, sinh hoạt nhân gian... Qua lớp cổng tường thứ hai này, là bước vào sân rộng xây cao dần thành ba cấp. Hai bên sân xây những giải vũ chạy dài, nhìn chầu lại nhà tiền tế năm gian ở giữa. Nhà này xây tường hồi bít đốc, xây cấp tai tượng, trên nóc đắp lưỡng long chầu nguyệt dài lớn ( thế kỷ thứ 19 ). Chính diện đằng sau là một kiến trúc chữ công, tiền hậu đao góc. Tất cả quy mô kiến trúc, tường trụ cổng mái nhấp nhô cao thấp, in hình trên vòm cây lá biếc của khu rừng cấm, tỏa rộng phía sau. Ðình đền này được coi là một quy mô điển hình hoành tráng, xinh xắn của nghệ thuật kiến-trúc Việt-Nam.

- Ðình Xuân-Quan, huyện Văn-Giang tỉnh Bắc-Ninh, thờ Triệu-Ðà, Vũ-Ðế. Cũng là một quy mô kiến trúc bố cục đăng đối theo chiều dài, nhưng không dài rộng bằng Ðình Yên-Sở, thực hiện vào thế kỷ thứ 19, mới hơn. Phần chính là ba nếp nhà trùng thiềm ( cổ diêm ), năm gian dài bằng nhau, làm trùng lương, trùng thiềm, điệp ốc, nghĩa là sát mái với nhau theo kiểu cung điện Huế, để tạo thành một bình đồ chữ nhật dài và rộng. Kiểu thức điêu khắc trang trí những bộ giàn trò gỗ bên trong cũng thấy rõ ảnh hưởng Huế với những hình dạng dây hoa, triện thọ, chạm khắc trên xà kèo và trong những mảnh ván bửng chia ô. Giải vũ dựng kèm hai bên hông được xây cất chắc chắn và trang trí bằng những cửa sổ hình quạt, vui mắt hơn những nơi khác. Trước sân dựng một cửa nghi môn ba gian, mái cũng trùm thiềm và phần cổ diêm cũng cao như những nếp nhà chính diện. Hai bên tả hữu nghi môn xây tường ngăn và mở hai cổng gạch nhỏ. Hai bên tả, hữu sân ngoài, trước nghi môn xây bọc lại và đối diện nhau, hai cổng gạch lớn trên dựng lầu. Cách bố cục xây tường hoa, tường ngăn, cổng lầu nhịp nhàng cân đối nên ngôi Ðình, đền này xứng đáng với tên chữ là Long-Hưng, điện thờ Triệu Vũ-Ðế. Ðình này ghi dấu tích dừng trú của Triệu-Ðà mỗi khi đi tuần du, băng qua sông Hồng.
- Ðình Thụy-Phương, huyện Từ-Liêm, tỉnh Hà-Ðông, còn gọi là đền thờ Lý Ông-Trọng. Kiến trúc hiện nay là làm lại, xây vào đầu thế kỷ thứ 19 sau cuộc biến Tây-Sơn. Ðình này có hậu cung làm kiểu chữ công. Trong cung thờ pho tượng Lý Ông-Trọng, tạc bằng gỗ cao khoảng 3 mét. Trước cung dựng đại bái năm gian, hai chái. Trong sân, trước đại bái, dựng một phương đình hai tầng, mái trùm thiềm, góc đao cong vút như cánh phượng, hai nhà chia bốn mái cũng đao góc, nổi bật trên những chậu cây cảnh cắt uốn. Hai bên sân là hai hàng giải vũ năm gian, làm đăng đối nhau và ở trước sân, cổng đền Ðình là một mái nhà năm gian mái uốn cong duyên dáng, thanh tao, bên trong bầy đăng đối hai bên, một voi, một ngựa làm thật khéo. Trước cổng xây bốn cột trụ biểu, sừng sững bên bờ sông Cái tạo nét hài hòa với tòa mái cổng trải dài uốn cong và trấn ngự nơi bến đò Phúc-Yên, giữa trời mây sông nước bao la.
Ðình làng tại miền Trung:

Tại Huế, Thừa-Thiên có những Ðình được dựng lên từ thời các chúa Nguyễn ( thế kỷ thứ 17-18 ), như Ðình Dương-Nổ ( Nỏ ); Ðình làng Kim-Long, v.v...

- Làng Dương-Nổ, quận Hương-Thủy là do những ông tổ của bảy họ đã theo chúa Nguyễn-Hoàng, di cư từ Thanh-Hóa vào và lập nên. Hiện nay còn miếu thờ của bảy ông ở gần Ðình làng. Ðình làm kiểu chữ nhất khá rộng, ba gian, hai chái, tường vây quanh gần khắp bốn mặt. Cách bố cục đặt biệt ở đây là giải vũ không dựng ở phía trước, mà dựng ở hai bên sau lưng Ðình. Cột kèo trong lòng Ðình khá to mập. Bàn thờ được trang trí, đục chạm khá công phu, có đôi hạc gỗ đứng chầu, nhắc lại phong cách bài trí của những bàn thờ thần ngoài Bắc.
- Làng Kim-Long là nơi mà chúa Nguyễn Phúc-Nguyên đã từ Dinh-Cát ở Quảng-Trị rời vào, thiết lập phủ mới tại đây vào năm 1635. Ðình Kim-Long là một kiến trúc thanh tao, góc mái vươn lên nhè nhẹ, bình đồ chữ nhật, có giải vũ dựng hai bên sân trước mặt. Trước sân có xây tường hoa, trụ cổng, bình phong. Chợ họp trước mặt Ðình, tạo thành bức tranh sinh hoạt đẹp cổ kính và nhiều màu sắc dân tộc.
- Ðình La-Chữ là ngôi Ðình nổi tiếng vì lớn hơn cả nên có câu: '' Chình ình như cột Ðình La-Chữ ''.
Tiếc rằng Ðình cổ đã bị phá hủy trong cuộc chiến 1945-1954. Khoảng năm 1960 ?, Ðình đã được tái thiết bằng xi măng giả gỗ. Ðình mới này cũng làm to rộng, gồm bốn căn nhà ghép lại, hai nhà ngang đều năm gian làm kiểu trùng lương, trùng thiềm, nhà trước dùng làm tiền bái, hẹp hơn nhà sau. Chính diện rộng hơn. Hai bên sườn hai nhà này, mỗi bên làm một nhà dọc, đơn giản hơn, một tầng mái dưới để trống dùng làm giải vũ nhưng áp liền mặt tiền hai nhà chính của Ðình.
Ðề tài trang hoàng là rồng và phụng trên mái, rồng mây cuốn cột, lân ở cửa sổ, cuốn thư trên đầu hồi, giải vũ và cuốn thư trên những ô cửa mặt tiền, cùng câu đối đáp trên mặt cột kèm hai bên. Ngoài ra con giơi, hoa cỏ, nhân vật điển tích, bát tiên, chữ triện... tất cả đều được gắn ghép mảnh sứ và men màu lóng lánh rực rở.
- Ở các nơi khác miền Nam Trung phần, Ðình làm đơn giản, thường nhỏ hẹp, bình đồ vuông, có tính cách như một ngôi miếu hoặc là đền thờ thần hơn là nơi dùng để tụ họp đông người. Tĩ dụ Ðình xóm Cầu Bóng tại Nha-Trang.
Ðình tại miền Nam:
Tại miền Nam, nhất là ở miền đồng bằng sông Cửu-Long ( Tiền-Giang, Hậu-Giang ), có những Ðình xây cất quy mô, đồ sộ như Ðình Vĩnh-Phước, Ðình Tân-Phú-Ðông, Ðình Tân-Phú-Trung tại Sa-Ðéc; Ðình Châu-Phú tại Châu-Ðốc. Những kiến trúc này phần nhiều được thực hiện vào cuối thế kỷ thứ 19. Bình đồ và kiểu cách phức tạp hơn Ðình ở miền Trung và miền Bắc. Bình đồ toàn thể là một hình chữ nhật đứng, gồm có nhiều nếp nhà song hành, xếp thong dong theo chiều sâu. Kể từ phía sau, trước hết có nhà hội đồng, rồi cách một sân kín ( sân nước ), hai bên dựng hai nhà cầu bốn mái, đến chính diện là nơi thờ thần. Tiếp liền trước mặt cung thờ tại chính điện là nhà võ ca, tức là nơi diễn trò hát Bộ. Sân khấu ở đây dựng đối diện với cung thờ, còn hai bên dựng những cấp bậc bằng gỗ để làm chổ cho dân làng ngồi coi. Cung thờ được trang trí, đục chạm hoa lá, chim muông, sơn thếp rực rỡ. Trên là hoành phi, dưới cửa võng, cột treo câu đối. Cửa cung sáu cánh đều chạm thủng, cột có nơi chạm nổi rồng cuốn quanh, cốn bên trên chạm thủy ba, cá hóa long. Cung thờ và võ ca có hàng ba ( hàng hiên ) chạy dọc quanh ba mặt, còn bên trên là ba tầng mái ngói ống chồng chất, và trên mỗi thành phần của ngôi Ðình lại nhô lên một lầu mái, nóc đắp bờ cao, triện cuốn và gắng rồng chầu hỏa châu bằng men sứ. Ðầu đốc những lầu mái xây tam cấp vành uốn cong và những cổ diêm chạy dài giữa những tầng mái được trang trí bằng những hình đáp, vẽ, màu sắc rực rỡ, đường nét linh hoạt lộ vẻ vui tươi, sống động.

Những ngôi Ðình này nghiểm nhiên là một kiến trúc đồ sộ đáng kể và có một phong cách độc đáo, có thể là do sự phối họp của nhiều nguồn ảnh hưởng, để tạo ra một kiến trúc có màu sắc, đường nét rất địa phương.

Chú-thích:
*- Tham khảo: Lê văn Hòe: một số tài liệu về Ðình . Nghiên cứu Việt-Nam số 2-1968.
**- Theo Lê văn Hòe, Trung Bắc Chủ Nhật, số 55, tháng 4 năm 1941.

Hình (Mạnh Thường): Đình Bình Thủy (Long Truyền cổ miếu), Cần Thơ. xây vào thế kỷ 19 và tái thiết vào năm 1910 theo "Việt-Nam - Di Tích và Thắng Cảnh" của tác giả Mạnh Thường, xuất bản vào năm 2000.


 

                 Tổ chức xã thôn Việt Nam

» Tác giả: Phạm Hy Sơn
» Dịch giả:
» Thể lọai: Biên khảo

1. Tổ chức xã thôn Việt Nam

Sở dĩ chúng tôi đề cập đến tổ chức xóm làng vì xã thôn đóng một vai trò rất quan trọng - như một thành lũy - trong việc chống ngoại xâm, bảo tồn Văn hóa và nuôi dưỡng tâm tình người Việt.
...
Có thể nói từ một gia đình nhỏ người Việt mở rộng ra một "gia đình" lớn hơn là làng xã, trong đó mọi người chung sống như một gia đình, cũng có bàn thờ trang trọng chung thờ thành hoàng, có tài sản chung, phong tục tập quán chung, ai đáng cha kêu cha, ai đáng chú kêu chú, ai lớn tuổi hơn là anh là chị… Ngược lại, những người đáng tuổi cha chú, anh chị phải coi người dưới như con, em mình. Mọi người sống trong một cộng đồng có tôn ti trật tự, tình yêu thương, tương thân tương ái, đùm bọc che chở khi có người gặp hoạn nạn. Những tiếng bác Hai, bác Ba, thím Tư, thím Bảy để kêu người trên trong làng xóm một cách kính trọng như cha chú mình, hay con Sáu, con Tám, thằng Tư... để những người có tuổi kêu người dưới một cách thân mật như con cháu mình.

Xã hội và làng xã Việt Nam không có giai cấp quí tộc và thứ dân, không có địa chủ và nông nô như xã hội Tây phương trước kia. Nếu người nghèo không có ruộng đất riêng thì cũng được làng xã chia công điền, công thổ để làm ăn. Mọi người có cơ hội đồng đều trong cuộc sống. Do đó người nghèo không bị miệt thị vì "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời ". Nếu khoẻ mạnh, biết tính toán, chăm chỉ làm ăn sẽ có cơ hội trở nên giàu có; nếu có chí học hành sẽ thi đỗ làm quan. Những kẻ hống hách, kiêu kỳ bị khinh dể, không có chỗ đứng trong xã thôn do tính khinh bạc không coi trọng chức tước, danh vọng, mà coi trọng những điều nhân nghĩa của người mình. Câu nói "chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng " có ý mỉa mai những người có học mà kiêu căng và ngay cả những người khoa bảng hách dịch.

Ngày xưa có những ông cử nhân, tiến sĩ hay tuần phủ, tổng đốc được vua ban sắc chỉ, võng lọng về làng nhưng không có đức độ vẫn bị coi thường. Trong tiệc khao dân làng của họ, mọi người đến vì trọng bằng cấp, mũ áo của nhà vua nhưng chỉ ăn qua loa hoặc chống đũa ngồi đó làm gia chủ phải đem rượu, thịt ế đổ đi. Dưới đây là đôi câu đối của ông đồ Phan Điện viết dán ngoài cổng nhà ông Nghè Dương Lâm đang ăn khao cháu đỗ Tiến sĩ dưới thời Pháp thuộc:

- Sung sướng thay! Quan Thiều làng Vân, con đỗ cống, cháu đỗ nghè, sắc chỉ vua ban, mề đay Tây gắn, giời riêng một nhà tú dua nhiều vận tốt. (Toujours: luôn luôn)

- Đau đớn nhẽ! ông Hoàng họ Nguyễn, chồng một nơi, vợ một nẻo, ngày thì lội suối, tối lại qua đèo, đất chung cả nước, một mình gánh vác có ai khen? (trích trong Văn Minh VN trang 207 của Học giả Lê văn Siêu).

Trong tập tục xưa, người Việt không bao giờ lấy vợ kém mình nhiều tuổi: kém năm, bảy tuổi đó là em mình; kém mười lăm, hai mươi tuổi đó là con cháu mình. Những người già lấy vợ trẻ bị người ta chê cười là ham muốn nhục dục, "già đời còn chơi trống bỏi ". Cái cảnh "theo sau đủng đỉnh một đôi dì" của nhà nho Nguyễn công Trứ bị người ta chê trách, không phải là điều vinh dự trong xã hội Việt Nam.

Không ai biết làng xã được tổ chức từ bao giờ, dấu vết còn ghi lại ít nhất từ thời các vua Hùng dưới hình thức giống như các buôn, bản của đồng bào Mường hay những đồng bào thiểu số khác gần cận với chúng ta. Những tiếng cổ xưa để chỉ thôn xóm thời ấy là làng chạ, làng mạc.

Thời Vua Hùng dựng nước đã có Lạc Hầu, Lạc Tướng coi một vùng thuộc quyền của mình (như các tù trưởng hay quan lang của đồng bào thiểu số bây giờ). Như vậy là có nhiều thôn xóm, làng mạc qui tụ dưới quyền các vị Lạc hầu, Lạc Tướng và các vị này qui tụ lại thành quốc gia do các Vua Hùng kế tiếp nhau ngự trị.

Nhưng trước khi có quốc gia thì người Việt đã tổ chức làng xóm vững vàng từ lâu rồi, bằng chứng là phong tục, tập quán, luật lệ, cơ cấu chính quyền Xã, tín ngưỡng đã ăn xâu vào đầu óc người dân và đã trở thành như những nguyên tắc bất di, bất dịch nên khi thành lập quốc gia các vị Vua, Chúa phải tôn trọng: "Phép vua cũng thua lệ làng".

Đời Trần (Trần thái Tông) đời Lê (Lê thánh Tông), nhà vua muốn bổ viên chức Xã Quan (hay Lý Trưởng) là người của chính quyền về cai trị thay cho viên chức từ trước vẫn do dân chúng bầu ra đều thất bại phải bãi bỏ Thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân biết làng xã là nguyên nhân chính gây trở ngại cho chính sách đồng hóa của họ nên ra Nghị Định dưới danh nghĩa "Cải Lương Hương Chính" ở Miền Bắc năm 1904 và miền Nam năm 1921 cũng đưa đến thất bại vì không được dân chúng tiếp nhận.

Ngay sau khi người Pháp chiếm 6 Tỉnh miền Nam (1864), năm 1874 Luro đã thấy rằng làng xã tự trị (commune automone) là một tổ chức có truyền thống ổn định rất xa xưa và khuyến cáo nhà cầm quyền thực dân thời ấy không nên đụng chạm đến vì có thể " làm dân chúng bất bình đưa đến rối loạn ".

Nguyên nhân từ đâu?

Trước hết, đó là tinh thần dân chủ đã ăn xâu vào nếp sống của người dân, nếu bị tước đoạt họ sẽ đoàn kết chống đối dưới mọi hình thức, mà hình thức thông thường là toàn dân trong xã bảo nhau tẩy cha, không hợp tác, tránh né không thi hành mệnh lệnh.

Có thể so sánh Làng Xã của ta với những "Quốc gia Đô thị " của Hy Lạp thời xưa hay những Tiểu bang, những nước Cộng Hoà tự trị ngày nay. Nhưng Làng Xã Việt Nam kết hợp lại thành quốc gia không phải bởi luật pháp, hiến pháp ràng buộc như những nước khác mà bởi tinh thần dân tộc do cùng một dòng máu, cùng một Tổ Tiên nên sự liên hệ giữa hai bên được giải quyết êm đẹp bằng cả tình lẫn lý, gần như không có sự xung đột nào qúa đáng.

Làng xã của ta từ xưa đã có cơ cấu tổ chức gần giống với cơ cấu tổ chức của các quốc gia dân chủ tân tiến ngày nay, đó là chia chính quyền thành cơ quan Lập Pháp (tương đương Quốc Hội) do Hội Đồng Kỳ Mục phụ trách và cơ quan Hành Pháp (tương đương Tổng Thống) do Xã Trưởng đứng đầu. Thời ấy chỉ không có cơ quan Tư Pháp tức Tòa án coi việc xét xử mà do Vị Tiên Chỉ đứng đầu HĐ Kỳ Mục hay Lý Trưởng phục trách. Xã (Làng) có Hiến Pháp là bản Hương Ước (qui định luật lệ về quyền lợi và nghĩa vụ cho người dân trong Xã) do HĐ Kỳ Mục thành lập. Hội Đồng này còn có quyền thay đổi những tập tục lỗi thời hay ban hành những luật lệ mới. Lý Trưởng (hay Xã Trưởng) phụ trách việc thi hành Hương Ước tổ chức việc tế lễ, thu thuế, bảo đảm an ninh, liên lạc với các cấp chính quyền thuộc quốc gia...

Hội Đồng Kỳ Mục gồm những người có tuổi, có tư cách được kính trọng, hoặc những người có học thức những người đã từng có địa vị trong xã hội(cựu quan lại) do dân chúng tín nhiệm bầu ra.

Về Văn hóa, mỗi Xã có phong tục tập quán riêng ấn định việc cưới hỏi, lễ hội, ma chay, bầu cử, thuế má, phân chia công điền, công thổ… Những tập tục ấy mọi người bắt buộc phải tôn trọng kể cả những người ngoài làng tới làm ăn sinh sống, hay tới để làm lễ cưới hỏi cho con cái mình. Những cách sinh hoạt khác lạ, dù trong nước, cũng bị chận lại ngay ở cổng làng không cho len vào nói gì đến lối ăn mặc, lối sống mà thực dân phương Bắc hay phương Tây đem tới bắt dân ta phải theo để đồng hoá!

Người ta còn nhớ vào thời Minh Mạng, một ông vua nhà Nguyễn triệt để theo Tàu (giống vua cha là Gia Long). Năm 1828 vua Minh Mạng ban chiếu chỉ cấm dân mặc váy, đã bị dân chúng phản đối không tuân theo và đả kích kịch liệt qua câu ca dao sau đây:

Tháng Tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy (váy), người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang.
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.

Những lời đả kích cay nghiệt nhất là câu thơ cuối cùng, đối với mệnh lệnh của một ông vua khi làm trái với tập quán của dân chúng (đàn bà cởi truồng ra đứng ở đầu làng... cho vua quan xem).

Kết quả là hơn 100 năm sau, khi ông vua cuối cùng của nhà Nguyễn là Bảo Đại rời khỏi ngôi báu vào giữa thập niên 1950 thì đàn bà ở miền Bắc vẫn còn mặc váy.

Cho nên không có gì khó hiểu khi chúng ta thấy 2 làng ở cách nhau một con đường mòn mà lễ cưới hỏi hay cách thức tổ chức hội hè, tế lễ, cách nói năng và có khi giọng nói khác nhau Người làng này sang làng khác sinh sống không được hưởng các quyền lợi như chia công điền, công thổ, không được tham gia việc làng trong khi vẫn phải thi hành các nghĩa vụ. Họ sống như người ở nhờ, sống ngoài lề dù đã ở đó bao nhiêu đời. Do đó làng xã Việt Nam, nhất là ngoài Bắc (miền Nam do bối cảnh lịch sử có khác đôi chút) không có người Trung Hoa nào len lỏi vào được. Họ ở ngoài phố thị buôn bán, làm thầy thuốc bắc hay thợ thuyền sinh sống.

Nói đến Văn Hoá, phải nói đến cái Đình mà làng nào cũng có. Ngôi đình - thường được xây rất lớn theo lối nhà sàn, cột một người ôm, có mái cong, có cầu thang lên xuống - mang dấu tích sinh hoạt Văn hoá và kiểu giáng từ thời xa xưa mà ngày nay đồng bào thiểu số gần cận với người Việt kêu là nhà Làng hay nhà Rông. Đình là nơi trang trọng vừa dùng để thờ Thần Làng (Thành Hoàng), vừa là nơi tế tự, tổ chức lễ hội, hát xướng, nơi hội họp toàn dân để bàn về những việc quan trọng, nơi Hội Đồng Kỳ Mục và Lý trưởng làm việc, nơi xét sử những người vi phạm thuần phong, xúc phạm thần làng, bất hiếu với cha mẹ...

Thường mỗi làng một năm có vài dịp lễ hội, nhiều nhất vào ba tháng đầu năm:

Tháng Giêng ăn tết ở nhà,
Tháng Hai cờ bạc, tháng ba hội hè.

Nhưng ngày quan trọng nhất là lễ tế Thành Hoàng để nhớ ơn, để cầu cho dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Lễ này thường được tổ chức kèm theo những sinh hoạt văn hoá khác như hát chèo, hát nhà trò, đánh vật, thi nấu cơm, thi bơi thuyền, thi thả diều... và người dân trong làng nhân dịp này cùng nhau vui chơi ăn uống.

Những dịp như thế tạo tinh thần trách nhiệm - qua việc đóng góp tiền bạc, công sức - và gây tình yêu thương, đoàn kết cũng như tinh thần gắn bó với bà con, xóm làng. Vì vậy người ta không ai muốn rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn và nếu cực chẳng đã phải đi nơi khác làm ăn, họ rất buồn tủi cho là đi "tha phương cầu thực", tức đi kiếm miếng ăn nơi xứ người!

Một đặc điểm văn hoá khác phát xuất từ thôn xóm nhưng đã vượt lên tầm mức quốc gia và đi vào lịch sử, đó là Văn Hoá Cây Tre được người Việt Nam tạo nên. Một huyền thoại từ thời xưa kể lại rằng khi Đức Thánh Gióng được Vua Hùng cấp cho ngựa sắt, kiếm sắt đi đánh giặc Ân, Ngài cưỡi ngựa ra trận dùng kiếm tả xung hữu đột chém giặc; khi kiếm sắt gãy, Ngài nhổ gốc tre mà đánh khiến quân giặc tan tành! Nếu không có gốc tre mọc bên đường hẳn lịch sử của chúng ta đã đổi khác.

Tre là một loại cây dễ mọc ở vùng nhiệt đới, có chỗ mọc thành rừng. Thân tre thường cao bảy, tám mét, cành lá xum xuê lại mọc sát nhau nên cho nhiều bóng mát. Tre có nhiều loại: Tre gai, tre bương, (tre) nứa, (tre) tầm vông... riêng tre ngà và(tre) trúc trồng làm cảnh. Tre hiện diện trong mọi sinh hoạt của người Việt ở khắp nơi từ cây tăm nhỏ bé, đôi đũa ăn hàng ngà, rổ, rá rửa rau; cái giỏ, cái giậm, cái thuyền, cái bè vó để đánh bắt cá; đòn gánh, đòn sóc, quang, bắp cày, cán cuốc, cán mai, cán thuỗng để gồng gánh hay đào bới đất; cái thúng, cái mủng, cái nong, cái nia, cái bồ, cái cót để đựng lúa, đựng ngô; cái phên, cái liếp dựng trước nhà che nắng, mưa và gió; đến cả cái giường nằm, cái nhà cũng làm bằng tre ... . Cao cấp hơn và mang rõ nét văn hoá là cái đàn tre thánh thót, cái sáo diều vi vu, ống sáo trúc đã làm rung động bao tâm hồn người nghe khi trao vào tay những nghệ sĩ tài ba (Tô kiều Ngân, Nguyễn đình Nghĩa...).

Cây tre, cây trúc đã đi sâu vào tâm hồn người Việt:
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.

Và:

Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre vắt vẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi thì mặc khó đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.

Tre còn được dùng làm vũ khí chẳng những vào thời thánh Gióng mà cả vào thời cận đại và hiện đại ; đó là cung, tên, cán đòng, cán giáo gậy gộc.

Nhưng ở đây chúng tôi muốn nói vai trò quan trọng như những thành lũy của cây tre trong việc bảo tồn văn hoá và an ninh của người Việt.

Như chúng ta đã biết, ở thôn quê mỗi nhà có lũy tre dày đặc vây quanh làm hàng rào và chỉ có một cổng ra vào. Đó là thế giới riêng của một gia đình với cha mẹ là người điều khiển và dạy bảo con cái. Tất nhiên mỗi gia đình ở đâu cũng có lối sống riêng nhưng - với hàng rào bao bọc - không sợ người khác nhòm ngó tạo cho người ta tâm lý riêng tư hoàn toàn nên mỗi gia đình tự tạo ra nề nếp cho mình về lối sống, cách làm việc, trật tự trong gia đình (tuy vẫn tôn trọng tập quán của địa phương), do đó người ta có câu: nhập gia tùy tục. Những gì trái với lối sống trong nhà đều bị cấm đoán hay ít ra không được chấp nhận. Những người mới gia nhập như con dâu, con rể đều phải tuân theo nề nếp có sẵn.

Lũy tre nối liền từ nhà nọ đến nhà kia vây bọc khắp làng và chung quanh làng. Loại tre làng xã Việt Nam trồng làm rào lũy là loại tre gai, gốc đặc, từ gốc đến ngọn mỗi đốt đều có nhánh đầy lá và mọc gai tua tủa, chui vào bị gai đâm, leo lên cao cũng bị gai đâm, đào lỗ chui vào thì bị lớp rễ dày đặc ngăn cản. Thường thì mỗi làng chỉ có 2 hay 3 lối ra vào, ban đêm cổng làng được đóng chặt có tuần phiên canh gác chống trộm cướp.

Từ ngoài nhìn vào, làng xã Việt Nam trông tựa một đồn ấp với thành lũy bao bọc kiên cố. Qủa thực nơi đó là đồn ấp chẳng những để vảo đảm an ninh chống trộm cướp mà còn là nơi chống lại sự đồng hóa thâm độc của của kẻ thù xâm lăng qua chiều dài hơn ngàn năm Bắc thuộc và 80 năm Pháp thuộc nhờ vào tổ chức chặt chẽ, có tôn ti trật tự, sự thân thiết xóm làng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, lại có tôn giáo riêng (thờ thành hoàng), luật lệ, phong tục tập quán riêng không nhân nhượng bất cứ phong tục, tập quán nào dù là của làng bên cạnh, của vua chúa ban ra (như đã nói về chiếu chỉ cấm mặc váy của vua Minh Mệnh), nói chi đến phong tục tập quán của kẻ xâm lăng.

Cũng như trong một gia đình, những phong tục, tập quán xa lạ đều phải để lại bên ngoài trước khi bước chân vào làng vì "đất có lề quê có thói ", đó là nguyên tắc mọi người phải tôn trọng.

Nói như thế không có nghĩa là người Việt Nam không chấp nhận sự tiến bộ, sự đổi mới. Chủ đích của người Việt là gạn lọc: chỉ có những phong tục, tập quán, lối sống nào có hại hoặc trái ngược với văn hoá dân tộc mới bị ngăn chặn, bài bác.

Trong lịch sử, làng xóm còn là những chiến lũy chống xâm lăng trong chiến thuật du kích. Đời nhà Trần khi quân Nguyên sang xâm lăng, quân nhà Trần một mặt đem đại quân ngăn chặn, một mặt dùng chiến thuật du kích quấy phá. Thời nhà Lê, Bình Định Vương cũng khởi binh từ nơi thôn xóm. Thôn xóm là nơi che chở, ẩn nấp và tiếp tế lương thực cho nghĩa quân. Quân thù muốn hành quân nơi thôn xóm không bao giờ dám đi lẻ loi mà phải đem ít nhất hàng tiểu hay trung đội, vì vậy khi người Việt đã vùng lên đấu tranh thì quân giặc phải phân tán thành hàng ngàn đơn vị nhỏ về làng xã để giữ an ninh, quân Việt nhờ đó tìm cách đánh tỉa dần làm cho địch suy yếu trong khi nghĩa quân càng ngày càng lớn mạnh chờ cơ hội phá tan quân địch đem lại độc lập cho đất nước.