LỄ TỔ TIÊN



Ngày hôm nay, mọi người Việt Nam đều làm lễ gia tiên, đó là một phong tục rất đẹp mà chúng ta nên gìn giữ. Hiện nay dù theo tôn giáo nào, người Việt Nam cũng có thể thắp một né nhang, cử hành lễ tưởng niệm tổ tiên vào ngày giỗ, Tết. Trong các phong tục ngày Tết Nguyên Đán, chúng ta giữ nhiều tập quán hay cũng như dở, nhưng lễ gia tiên có khi bị xao lãng. Và ngay khi còn giữ được, nhiều người ở trong nước cũng như ở ngoài cũng cử hành lễ cho đủ hình thức thôi, còn ý nghĩa của việc thờ cúng tổ tiên dễ bị quên đi. Cho nên điều bây giờ chúng ta cần chú ý không phải chỉ là lễ nghi mà còn phải làm sao cho thế hệ trẻ lớn lên thấy các nghi lễ đều có ý nghĩa.

Đối với những người Việt ở xa quê hương thì lễ gia tiên còn quan trọng hơn khi ở quê nhà, vì đó là một dịp chúng ta nối liền quá khứ với hiện tại, trong khi vẫn hướng về tương lai. Ngày Tết, các gia đình sẽ có dịp nhắc nhở con cái về lịch sử của ông bà khi giải thích với con cháu tại sao phải lễ lạy trước bàn thờ. Nếu không, thì chỉ trong vòng một hai thế hệ sẽ không còn ai để nhắc nhở, dễ bị quên lãng. Khi tưởng nhớ tổ tiên, chúng ta cũng tạo cho các thế hệ trẻ về niềm tự hào văn hóa của dân tộc. Trong các cuốn sách nghiên cứu sử học gần đây, Tiến Sĩ Lê Mạnh Thát đã nêu nhiều chứng cớ cho thấy người Việt Nam đã có phong tục thờ cúng tổ tiên trước khi bị các quan thái thú đời Đông Hán ép theo văn hóa Trung Hoa. Trong Tiền Hán thư đã kể chuyện một người Việt nói cho Hán Vũ đế nghe về phong tục thờ và gọi hồn người chết. Những ngôi mộ cổ từ hàng ngàn năm trước Tây Lịch cho thấy những vật tùy táng, coi như những người đã chết vẫn tiếp tục sống ở một thế giới khác.

Lê Mạnh Thát đã biện luận rằng kinh Lục Độ Tập trong bộ đại tạng bằng chứ Hán được nhà sư Khương Tăng Hội người Ấn Độ sống ở nước ta vào thế kỷ thứ ba dịch sang chữ Hán, kinh đó có thể đã dịch ra từ một bản văn bằng tiếng Việt. Bản Hán dịch cho thấy kinh Lục Độ Tập không xuất phát từ một bản chữ Phạn, vì có những khái niệm mà các kinh văn chữ Phạn không bao giờ dùng tới. Thí dụ nói đến tục chôn người chết, tục bỏ tiền vào miệng thi hài, những tục đó không thông dụng ở Ấn Độ cũng như Trung Hoa. Những luận giải trong kinh này về Hiếu, Hạnh, vân vân không có trong văn học chữ Phạn mà cũng ngược lại với quan niệm Nho Giáo ở Trung Hoa đương thời. Ngoài ra, cấu trúc ngôn ngữ nhiều chỗ theo văn pháp tiếng Việt, ngược với văn pháp chữ Hán. Lê Mạnh Thát kết luận rằng kinh Lục Độ Tập là của tổ tiên người Việt chúng ta. Trong kinh đó đã bàn đến đạo Hiếu, chứng tỏ các quan niệm này đã phổ thông ở nước ta từ rất lâu.

Sau một ngàn năm bị người Trung Hoa cai trị, người Việt Nam đã hấp thụ Nho Giáo để hòa lẫn với phong tục thờ cúng tổ tiên. Nhưng so sánh với người Trung Hoa có lẽ người Việt lại tiến bộ hơn, vì ông cha chúng ta không quá chú trọng đến hình thức như đa số người Hoa, mà thường rút lấy tinh túy của Khổng Giáo khi áp dụng vào tục thờ tổ tiên. Từ đời Hán người Trung Hoa coi chữ Hiếu là đứng đầu các tính tốt, thể hiện đạo Hiếu với một thái độ "giáo điều," trong khi người Việt, như Lê Mạnh Thát thuật lại theo kinh Lục Độ Tập thì chữ Hiếu không có vai trò độc tôn mà lòng thương người, thương muôn vật mới quan trọng. Đó cũng là truyền thống thâu nhập văn minh Nho Giáo nhưng vẫn giữ các bản sắc của dân Việt, trong đó có những đóng góp của Phật Giáo.
Ngày nay chúng ta lễ tổ tiên như thế nào? Bàn về việc hành lễ, đức Khổng Tử nói: "Tế như tại," nghĩa là "lễ tổ tiên như thể tổ tiên có trước mặt mình."( Luận Ngữ, Thiên Bát Dật, câu 12.)
Nghi lễ đặt ra không phải chỉ vì người ta làm bổn phận với Trời, Phật, Tiên tổ, mà còn muốn gây tác dụng trên lòng người, giúp con người hướng đến điều lành, ghi khắc trong lòng các giá trị trong truyền thống. Việc thờ cúng ông bà chỉ có tác dụng nếu người hành lễ chú tâm tưởng niệm, như thể tổ tiên đang hiện diện trước mặt mình. Điều mà các bậc phụ huynh chúng ta cần giải thích cho con em là, nói một cách khoa học, tổ tiên lúc nào cũng có mặt ngay ở trong mỗi người chúng ta.

Điều các em có thể hiểu, là trong mỗi cá nhân đều có những hạt giống, có dòng máu di truyền của ông bà, cha mẹ. Những hạt giống di truyền đó nằm ở trong ta, đi theo chúng ta suốt cuộc đời, rồi mỗi người sẽ truyền lại cho con cháu mình. Có thể nói mỗi người đều mang trong mình một phần những tế bào sống và những kinh nghiệm tâm linh của tổ tiên. Di sản của tổ tiên còn gồm cả những điều các người xưa ước ao, mong mỏi xây dựng cho các thế hệ con cháu, gọi là Phước Đức.
Người Việt Nam tin vào Phước Đức. Đây cũng là một tín ngưỡng đặc biệt Việt Nam, người Trung Hoa hay Ấn Độ không tin vào Phước Đức như người mình tin. Niềm tin đó khiến cho mỗi người cố gắng làm điều lành, tránh điều ác, để "làm vốn" cho con cháu đời sau được hưởng phước. Hoặc ít nhất con cháu "không phải trả nợ" những lỗi lầm của ông cha. Cũng vậy, mỗi thế hệ con cháu cũng nghĩ rằng trong đời mình có khi gặp được điều tình cờ may mắn không thể giải thích được, thì một phần sẽ giải thích là do Phước đức ông bà để lại cho. Niềm tin vào phước đức nối kết các thế hệ với nhau. Với niềm tin tưởng đó, mỗi thế hệ đều biết ơn tổ tiên vì những phước đức tích lũy từ đời trước. Rồi đến lượt chính mình cũng muốn làm điều thiện để cất đầy trong kho phước đức chung đó.
Khi một người Việt làm điều thiện, tránh điều ác, hành động đó không phải chỉ cốt tạo ra những hậu quả tốt cho chính mình, mà còn muốn, có khi chỉ cốt "để dành phước đức," truyền lại cho con cháu.

Tổ tiên chúng ta đều chia sẻ niềm tin vào Phước Đức. Vì vậy chúng ta có thể tin rằng ông bà chúng ta lúc nào cũng tâm niệm chúc những điều tốt lành cho con cháu, qua các hành động suốt cả đời.

Các bậc ông bà cha mẹ, dù thuộc giống dân nào chắc cũng cầu mong con cháu gặp mọi sự tốt lành và để lại cho con cháu những di sản có giá trị. Nhưng đặc biệt trong truyền thống của chúng ta, niềm tin vào Phước Đức khiến cho tổ tiên chúng ta không phải chỉ dùng lời nói để cầu khẩn, ước mong. Vì tin vào Phước Đức, tổ tiên chúng ta cầu chúc cho con cháu bằng các hành động lương hảo, từ thiện. Tổ tiên đã dùng chính bản thân, chính cuộc đời của mình để chúc lành cho con cháu. Khi hiểu như vậy, chúng ta phải cảm thấy một sợi dây thiêng liêng nối liền các thế hệ, nghĩ tới tổ tiên với một niềm biết ơn sâu xa. Và chúng ta hiểu phải làm bổn phận của mình với các thế hệ sắp tới.
Khi hiểu rằng trong mỗi người chúng ta không những đang mang theo các hạt giống di truyền theo sinh học, mà còn mang theo tất cả các hạt giống của điều thiện mà tổ tiên để lại, thì các bạn trẻ của chúng ta dễ cảm thấy hơn sự hiện diện của tổ tiên trước mặt họ. Vì thật sự tổ tiên đang hiện diện ở trong bản thân họ. Khi đó việc cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên có một ý nghĩa sâu xa hơn, và châm ngôn "Tế như tại" được thể hiện.
Nghi lễ cúng bái tổ tiên không cần phải phức tạp hay sang trọng. Đức Khổng Tử cũng nói "Lễ, dữ kì xa dã, ninh kiệm," nghĩa là việc hành lễ mà xa xỉ thì nên kiệm ước còn hơn. (Luận Ngữ, Bát Dật, 4.)
Để cho thế hệ trẻ tham dự nghi lễ thờ cúng ông bà một cách tự nhiên, thoải mái, chúng ta cần hành lễ theo cách nào đơn giản hơn cả, chú ý nhiều đến nội dung hơn là hình thức. Như lời Khổng Tử nói về tang lễ, trong cùng đoạn trên, "Tang, dữ kì dị dã, ninh thích" (Tang lễ mà quá chú trọng nghi tiết thì chỉ bày tỏ lòng thương xót còn hơn.)
Điều cần chú ý là: Giản dị không có nghĩa là vội vàng, cẩu thả. Lòng thành kính phải được thể hiện ra trong hình thức bên ngoài, trong thân thể và y phục người lễ. Hành lễ với khung cảnh, thái độ, cử chỉ cung kính và trang nghiêm thì mới tạo được tác dụng sâu xa trong lòng người. Những nghi lễ giản dị, thực hành với một tấm lòng cung kính, chúng ta có thể giúp các bạn trẻ tham dự vào phong tục thờ cúng ông bà. Đó là truyền lại cho các thế hệ sau cả một di sản văn hóa rất đáng gìn giữ của dân tộc Việt Nam.

Nhật Báo Người Việt cầu mong quí vị và gia đình hưởng một Tết Nguyên Đán đầy ý nghĩa và một năm mới an hòa.

NGÔ NHÂN DỤNG


Người Thực Hiện sưu tầm tài liệu ngỏ hầu làm phong phú thêm
chẳng riêng gì Trang Web nhỏ vụng về này - Song đây là cơ hội ghi chép lại cho các Thế Hệ Hậu duệ
sau này - Mong Qúi Vị niệm tình thứ lổi cho - Vì đôi khi có hoặc giả không xin phép kịp !

 

Tục lệ Tang Ma

Lúc chết

Khi trong nhà có Ông Bà Cha Mẹ sắp chết ( giờ phút hấp hối ) con cháu phải đem người đó đến nằm chổ chính tẩm , hỏi han người đó có trối trăn điều gì không ? Dùng nước sạch lau rửa thân thể người sắp qua đời cho được sạch sẻ , thay đổi quần áo tươm tất . Khi người đã trút hơi thở cuối cùng , lấy một chiếc đũa để ngang miệng vào giữa hai hàm răng đợi giờ phạm hàm , lấy tờ giấy trắng đắp lên mặt người chết

Phạn hàm và chiêu hồn

Theo tụclệ xưa , họ hàng hoặc con cháu lấy một nấm gạo nếp vo sạch , ba đồng tiền kẽm mài cho sạch rồi bỏ vào miệng của người chết  .Tục này gọi là phạn hàm . Nếu nhà khá giả thì bỏ vàng và châu báu vào miệng người chết đểchứng tỏ sự hiếu thảo của mình . Việc làm này ngụ ý không muốn để người chết mà miệng phải trống rổng và thèm muốn . Làm lễ phạn hàm xong , thì trãi chiếu dưới đất , đem người chết xuống nằm nơi ấy  ( tục truyền này có nghĩa là người ta sinh ra từ đất và khi chết lại trở về đất ) Để được một lát lại rước người chết đặt lên giường . Người con cầm cái áo của người chết từng mặc , tay trái cầm cổ áo , tay mặt cầm lưng áo , rồi từ phía trước nhà treo lên nóc , dùng tên gọi của người , chiêu hồn  ( gọi hồn người chết ) ba tiếng , có ý cầu mong cho người đó sống lại , sau đó mới lấy chiếc áo đắp lên thi thể người vừa mới chết - Con cháu trong nhà phải yên lặng , cầu nguyện hoặc là rước Thầy về tụng kinh độ vong . Người trong gia đình đều phải đi chân không , không mang nữ trang , không trang điểm son phấn  .Con cái trong nhà và những người thân thuộc phải bịi khăn tang trắng cho đến khi thành phục

Khâm liệm và nhập quan

Những gia đình giàu có thì dùng vóc nhiễu tơ lụa , nhà nghèo thì dùng vải trắng may thành đồ tiểu  liệm và bốn cái túi để bao tay , bao chân người đã mất .Đồ tiểu  liệm có thể là một tấm chăn nhỏ bọc lấy thi thể rồi đến một đai buộc dọc , và một đai buộc ngang .bên ngoài đồ tiểu liệm đến đồ đại liệm là một tấm chăn lớn bọc kín thân thể , có một đai buộc dọc và năm đai buộc ngang .Ngoài hết là tấm tạ quan .Nhà ai nghèo không đủ tiền mua sắm những vật như thế thì cũng cố kiếm một tấm vải mỏng để bọc .Khi khâm liệm , người ta lấy giấy sạch chèn vào những chổ trống để cho thi thể được ngay ngắn .Sự khâm liệm này có ý trân trọng , tiếc nhớ và giữ gìn di hài người đã khuất . Đúng vào giờ đã chọn , con cháu vào khâm liệm xong , rước thi thể đặt vào quan tài , kê đệm cho ngay ngắn .Quan tài bao giờ cũng phải đặt chính giữa nhà , nếu người trong nhà còn sống tuổi tác lớn hơn người đã chết , thì quan tài có thể đặt khiêm nhường qua một bên , đầu quan tài luôn hướng ra ngoài sân , trước trời đất . Sau đóđập nắp quan tài , sơn và gắn kỹ càng trên nắp quan tài luôn luôn thắp bảy ngọn nén  ( thất tinh ) đặt ly hương , một chén cơm , một đôi đũa và một hột trứng gà chín đã bóc vỏ để thờ . Giờ nhập quan , người ta hay tránh và kiêng cử tuổi vong và tuổi trưởng . Từ đây con cháu thường trực quanh linh cữu để cúng lễ hoặc tạ lạy những khách đến phúng điếu

Đặt linh sàng , linh toạ

Nhà rộng rãi khi có đám tang thì được đặt linh sàng .Linh sàng thì  thường là một cái giường kê ở bên linh cửu về phía tay mặt , cung phụng như chổ ngủ lúc người còn sống , có mùng màn , chăn chiếu , gối nệm tử tế

Linh tọa là bàn thờ vong linh , đặt trước quan tài . Trên linh tọa có đèn cầy , đặt chân dung người quá cố hoặc có thêm bài vị nữa .Phía ngoài cùng thì kê hương án bàn độc

Lễ thành phục

Lễ thành phục còn gọi là lễ phát tang .Sau khi đã làm từ linh sàng , linh tọa xong và sắm đủ tang phục dùng một ít dâng lên linh tọa , thì con cháu bắt đầu xỏa tóc , mặc đồ tang theo thứ tự , ngôi bậc trong gia đình , sắp hàng trước hương án khóc lạy người quá cố . Có đám tang mời thầy đến tụng kinh siêu độ , và trống phách đưa tiễn vong linh người mất

Đồ tang phục

Con trai , con gái , con dâu thì đều bịt khăn sô , đội mủ kết bằng sợi chuối , trong mặc áo quần bằng vải thô xấu , bên ngoài mặc áo xô , ngoài cũng quàng sợi dây chuối , thắt lưng bằng chạc hay cũng bện bằng sợi chuối , đi giầy kết bằng cỏ gai hoặc rơm rạ . Nếu người cha chết , thì áo quần may bỏ xổ gấu , mẹ chết thì may áo có vén gấu , có ý là cha hơn mẹ một bực , nên tục ngữ ta có câu : " Cha buông , Mẹ vén " là theo tục ấy .Nhưng nếu người mẹ mất sau cha thì tang phục cũng không cần phải phân biệt như trên . Áo  phải khâu đường sống lưng lộn mép vải ra ngoài và giữa lưng có một miếng vải khâu bám vào , người xưa gọi là " phụ bản " tỏ ý cõng trên lưng mình một sự đau xót tiếc thương . Con gái đã xuất giá (  lấy chồng ) thì chỉ mang áo vén gấu để tang cha mẹ đẻ mà thôi . Con Trai phải chống gậy , việc này đối với người xưa hệ trọng lắm . Người có gia thất rồi mà khi mất không có con trai chống gậy đưa tang thì gia quyến tự coi là điều sĩ nhục đau đớn

Gậy tang cha thì bằng trúc , gậy tang mẹ thì bằng vông , bề dài lên ngang ngực nơi chổ trái tim của người chống gậy . Sỏ dỉ có tục lệ này vì người xưa cho rằng  : Gậy tang cha bằng trúc , trúc hình tròn tượng trương cho Trời , trúc bốn mùa không đổi tiết cũng như tấm lòng con thương cha vì thế mà không thay đổi  .Gậy tang mẹ bằng vông , nữa trên tượng trưng cho Trời , nữa dưới vuông tượng trưng cho Đất  ( 1 )

Cả hai thứ gậy tang đều phải chống xuống đất  . Bề dài của gậy tang phải ngang với quả tim ngừoi cầm , ý rằng người con hiếu thảo , khóc thương quá độ mà sinh ra đau ốm , phải có cây gậy chống đỡ  . Đau ốm từ tim phát ra , nên gậy tang phải ngang để chống đỡ với nỗi đau con tim ấy . Riêng con rể và cháu thì đội mũ mấn khăn áo trắng . Nếu như người con cả chết trước cha mẹ mình , mà có sinh được con trai để lại thì lúc cha mẹ chết , đứa con trai ấy phải thay mặt cha mình chống gậy để báo hiếu ông bà và phải đứng chủ các việc tế lễ gọi là cháu đích tôn thừa trọng tang phục cũng như người con trai vậy

Chuyển linh cửu    

Nữa đêm hoặc sáng sớm hôm cất đám thì làm lễ chuyễn linh cửu - nghĩa là di chuyễn quan tài . Xưa kia những gia đình có nhà thờ riêng , thì nhất thiết phải rước linh cửu đến triều bái tổ tiên , tức là chào từ biệt tiên tổ để về nơi chín suối . Nhưng lễ này rắc rối và phiền hà , nên về sau người ta bỏ dần . Trước khi động quan con cháu xúm xít quanh quan tài nhắc lên đặt xuống ba lần để cho người chết cáo vong , cáo tổ trước khi về cõi âm

Cất đám

Cất đám , tức là rước linh cửu đi an táng . Sáng sớm trước khi cất đám phải làm lễ cáo vễ việc này cho họ hàng bà con thân thiết được biết , đến giờ , những đô tuỳ vào rước linh cửu đặt lên linh dư , đầu quan tài cũng bao giờ đi trước , việc này có hàm ý là người chết đi từ chổ tối ra chổ sáng .Linh cửu dần dần chậm rãi chuyễn đi , con cháu , anh em , họ hành thân thiết tay bám vào quan tài mà khóc than , tiếp đến bạn bè thân hữu đi sau . Trong khi đưa đám , nếu người con trai nào đi vắng xa không về kịp tang lễ thì cây gậy của người ấy phải đem treo ở đầu đòn khiêng , con gái , con dâu thỉnh thoảng phải nằm lăn ra mặt đường , con gái nằm ngoảnh mặt tới trước , con dâu nằm ngoảnh mặt trở lại sau . Ý nghĩa của việc nằm lăn ra đường này để chứng tỏ rằng mình đem thân ra nằm trên những chổ đường lồi lõm , cao thấp cho linh cửu của cha , mẹ mình ra đi được êm đềm , và tỏ lòng đạo hiếu của con cái

Nghi lễ đi đường

Đám tang thường có hai thần phương tướng đi đầu để trừ tà tịch . Ngày xưa hai người này đều đeo mặt nạ , cầm giáo mác , đóng vai Thần dẹp ôn tịch , trừ đạo tặc . Theo sau Phương Tướng là hai người rước một bức hoành tráng vả trắng có bốn chữ " Hổ sơn vân ám " ( cha mất ) hay " Dĩ lĩnh vân mê " ( mẹ mất ) sở dĩ có bức hoành tráng này dùng vào việc khóc thương cha mẹ quá cố bở người xưa có câu  :

" Trèo lên núi Hổ  , ta trông thấy Cha

Trèo lên núi Dĩ , ta trông ngóng Mẹ "

Tiếp đến là miếng vải làm bằng vóc nhiễu the lụa hoặc bằng giấy đỏ cũng được để đề tên họ người quá cố , được treo vào cành tre như cây phướng , hoặc căng thẳng dựng đứng để lên bàn cho hai người khiêng , sau đó , mới đến hương án , giá hương , đồ tam sự và một mâm ngũ quả, lợn quay , bánh trái , giấy vàng bạc rãi suốt dọc đường linh cửu đi qua để tống tiền ma quỷ khỏi bám vào quan tài nặng nề khó đi

Hạ huyệt

Khi đám tang đưa đến huyệt , người ta đem hai thẫn phướng dạo bốn góc huyệt , đọan đưa quan tài xuống . Hạ linh cửu xuống huyệt , rồi mới tháo minh tinh rải lên mặt quan tài , đoạn con cháu khóc lạy , và bà con , bè bạn , mỗi người nắm một hòn đất , hoặc một cành hoa xuống huyệt , rồi mới bắt đầu lấp đất , việc này có ý cho người chết được ấm cúng bởi sự đấp đập của những người còn sống , trong khi lấp đất thì gia quyến bày lễ cúng Hậu thổ cầu cho người nằm dưới mộ được thảnh thơi yên ổn

Cúng quy lăng

Những người theo đạo phật , thì trước khi lấp đất thuỜng nhờ đến các sư , tăng làm lễ cúng phật độ , vừa niệm kinh vừa đi quanh mả gọi là " dong nhan "

Sự khóc lạy

Trong khi đám ma còn để trong nhà , con cháu và khách đến viếng chỉ lạy hai lạy , nghĩa là còn coi như người ấy đương sống . Mai táng xong mới lạy bốn lạy , tức là mới lấy đạo người chết mà thờ - Khách đến viếng , người thường thì lạy không , người thân thì khi lạy phải ô . hô ba tiếng để tỏ lòng thương tiếc - Khách đến viếng lạy , con cái vừa khóc , vừa lạy đáp , nhưng chỉ đáp lễ một lần , khách lạy hai thì mình lạy một . Con cái khi làm lễ trước linh toạ , hay khi đáp lễ khách , phải quỳ dưới đất , không được quỳ trên chiếu

Tế ngu

An táng người chết xong , về nhà lại cúng tế , gọi là " Tế ngu " Ngu có nghĩa là yên để cho vong hồn người khuất được yên ổn . Tuần lễ sau ngày an táng gọi là " sơ ngu " tế xong thì đem hồn bạch chọn một chổ đất vắng lặng sạch sẻ mà chôn xuống , sau tuần sơ ngu lễ còn đặt ra hai tuần lễ  " tái ngu " và " tam ngu " ở những ngày hôm sau nữa , việc này thường những nhà khá giả mới tổ chức

Cúng cơm ba ngày

Ngày thứ ba sau khi an táng , gia quyến còn có lễ cúng cơm ba ngày  ( hay gọi mở cửa mã ) buổi sáng con cháu đem trầm hương ra viếng mã , và sửa sang cho đẹp , xong về nhà cúng vái , mời bà con họ hàng ăn uống , tạ lễ

Cúng cơm hằng ngày , hằng tuần

An táng rồi thì ngày nào cũng phải cúng cơm hai bửa , thường là bát cơm với quả trứng luộc , hoặc khi người còn sống thích gì thì cúng nấy

Chung thất ( 49 ngày )

Bốn mươi chín ngày gọi là cúng tuần chung thất , dịp này các gia đình đạo phật hay mời các vị sư tụng niệm , sám hối , cầu vong linh siêu sanh tịnh độ - Đây cũng là tuần thất cuối cùng

Tốt khốc ( 100 ngày )

Một trăm ngày kể từ khi người chết đã khuất , thì gia đình phải cúng tuần " tôt khốc " có nghĩa là ngừng khóc . Cúng xong tuần này thì từ đây về sau không còn cúng cơm hằng ngày

Tiểu tường ( giổ đầu )

Được một năm thì giổ đầu -thường gọi là " tiểu tường " . Đến kỳ lể này thì tất cả áo quần của ngày tang con cái , anh chị em , phải mang lại để làm lễ , trừ những đồ sô gai , mũ cũng bỏ cho nhẹ bớt và bắt đầu làm lễ lại như người thân vừa mới mất , kỳ lễ này người ta thường mua sắm đồ hàng mã , cúng kiếng rồi đốt cho người cõi âm

Đại tường

Được hai năm kể từ sau ngày người quá cố gọi là giổ hết ( mãn khó ) hoặc đại tường . Lễ này con cháu sau khi lễ xong thì bỏ hết đồ tang


* ( 1 ) Người xưa quan niệm Trời tròn , đất vuông

( Sụ tích bánh dày , bánh chưng )

* Phỏng theo - Tục lệ của .    Phan thuận Thảo